HIỆN VẬT CỦA ÔNG MÃN TẤN DŨNG
Công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy từ năm 1964 - 1973, nhiệm vụ được phân công: Tỉnh đoàn Thanh niên
Nội dung chi tiết
KHU DI TÍCH CĂN CỨ TỈNH ỦY BÌNH THUẬN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Ông Mãn Tấn Dũng, sinh ngày 11/11/1937, quê ở xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình , tỉnh Bình Thuận. Hiện đang cư ngụ tại số 19, đường Đặng Văn Ngữ, khu phố 11, phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng. Năm 1974 đồng chí Mãn Tấn Dũng là Tỉnh ủy viên dự khuyết tỉnh Bình Thuận; tháng 12 năm 1975 ông là Tỉnh ủy viên tỉnh Bình Thuận; năm 1976 ông là Tỉnh ủy viên dự khuyết tỉnh Thuận Hải; năm 1977 ông là Ủy viên Thường vụ, Bí thư Thị ủy Phan Thiết; tháng 10 năm 1986 Bí thư Tỉnh ủy Thuận Hải.
1. La Bàn
Được ông Thân Trọng là bạn bè cùng thời kỳ kháng chiến tặng vào khoảng năm 1967, là vật dụng để xác định phương hướng đường đi khi di chuyển từ nơi này đến nơi khác trong các hoạt động cách mạng, nhất là khi hoạt động trong rừng.
2. Thùng đạn đại liên
Món quà từ đồng chí Xuân bạn bè thời kháng chiến tặng ông Mãn Tấn Dũng sử dụng để đựng tài liệu mật và các vật dụng cá nhân khác. Đây là sự nhạy bén, khả năng tận dụng từ vật dụng quân sự vào phục vụ cho công tác trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn nơi chiến trường, căn cứ kháng chiến.
3. Bi đông
Chiếc bi đông đựng nước do ông Nguyễn Minh Thiên từ quê nhà tặng ông Mãng Tấn Dũng vào cuối năm 1965, thể hiện được sự quan tâm, sẻ chia, tình đồng chí, đồng đội gắn bó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
HIỆN VẬT CỦA BÀ PHẠM THỊ THÚY HẰNG
Tham gia cách mạng từ năm 1970 - 1974 tại Quân khu 6
Bà Phạm Thị Thúy Hằng, sinh ngày 01/5/1953. Hiện cư ngụ tại số 99/02/01 đường Tuyên Quang, khu phố 4, phường Phú Thủy, tỉnh Lâm Đồng. Tháng 01/1968 bà tham gia cách mạng hoạt động nội thành, năm 1970 thoát ly ra rừng công tác tại Tiểu đoàn 18 Quân khu VI. Năm 1971 công tác tại tiền phương 800A Quân khu VI. Năm 1972 công tác tại Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân khu VI, năm 1974 công tác Đoàn 812 đến khi giải phóng.
1. Radio
Chiếc radio hiệu Panasonic bà Phạm Thị Thúy Hằng tự trang bị cho bản thân, là kỷ vật quý giá, biểu trưng cho sự tự lập và ý thức trang bị cho bản thân trong giai đoạn khó khăn để nắm bắt tình hình thông tin kháng chiến từ các chiến trường, mặt trận. Chiếc radio không chỉ giúp bà cập nhật thông tin, mà còn là nguồn động lực và kết nối với thế giới bên ngoài trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, cam go.
2. Đèn pin co
Đèn pin co hay còn gọi là đèn pin cổ nghéo, đèn pin góc vuông, đèn pin chữ L chiều dài hơn 1 gang tay, theo cách gọi của bộ đội Việt Nam. Đèn pin này do Mỹ chế tạo để trang bị cho lính Mỹ tại chiến trường Việt Nam, đèn pin có ngoại hình và công năng rất khác so với đèn pin thông thường mà chúng ta biết hiện nay. Loại đèn pin phổ biến này của lính Mỹ có tên MX-991/U được thiết kế rất đặc biệt, hình dạng chữ L của đèn pin có 2 tác dụng: Thứ nhất nếu dùng đèn pin dạng thẳng, khi sử dụng vô tình để lộ vị trí. Còn chữ L muốn chiếu xa thì lòng ban tày phải ngửa về hướng muốn soi. Thứ hai góc chữ L giúp cho việc gài đèn pin lên các giá đeo dễ dàng hơn. Khi di chuyển lính Mỹ có thể gắn đèn vào trang phục để soi mà không cần dùng tay cầm.
Hiện vật không chỉ tiện dụng trong những đêm dài nơi rừng núi mà còn thể hiện sự quan tâm của người tặng đối với bà. Đèn pin giúp soi sáng khi di đường vào ban đêm, hỗ trợ bà trong những nhiệm vụ quan trọng lúc thiếu sáng, soi rọi khâu vết thương cho các chiến sĩ nơi núi rừng.
Đèn pin co (đèn pin cổ nghéo)
HIỆN VẬT CỦA BÀ HOÀNG THỊ SỬ
Công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy từ năm 1973 - 1976, nhiệm vụ được phân công Y sĩ.
Bà Hoàng Thị Sử, sinh ngày 16/9/1949, quê quán xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang cư ngụ tại số 106, đường Nguyễn Thái Học, phường La Gi, tỉnh Lâm Đồng. Bà công tác tại Văn phòng Tỉnh ủy năm 1973 - 1976, nhiệm vụ được phân công y sĩ.
1. Ống nghe
Ống nghe được Trường 105 - Ban Thống nhất Trung ương cấp cho bà Hoàng Thị Sử khi vào Nam công tác năm 1973. Dùng để nghe nhịp tim và chẩn đoán tình trạng sức khỏe bệnh nhân. Chiếc ống nghe gắn liền với cuộc đời tham gia kháng chiến của bà, là biểu tượng cho tinh thần tận tuỵ, trách nhiệm chăm sóc thương bệnh binh trong kháng chiến chống Mỹ.
2. Nhiệt kế
Nhiệt kế được Trường 105 - Ban Thống nhất Trung ương cấp cho bà Hoàng Thị Sử vào năm 1973, nhiệt kế giúp đo thân nhiệt, phát hiện bệnh sốt và hỗ trợ chẩn đoán tình trạng sức khỏe cho chiến sĩ, đây là vật dụng quan trọng trong công tác y tế thời kỳ kháng chiến.
3. Bộ đo huyết áp
Bộ đo huyết áp do Trường 105 - Ban Thống nhất Trung ương cấp cho bà Hoàng Thị Sử vào năm 1973, dùng để kiểm tra đo huyết áp, phát hiện các rối loạn tuần hoàn. Thể hiện sự chu đáo và nỗ lực của người y sĩ trong duy trì chăm sóc sức khỏe chiến sĩ trong điều kiện chiến tranh.
4. Hộp đựng y cụ
Hộp đựng y cụ được cấp phát năm 1973, dùng để đựng và bảo quản các dụng cụ y tế phục vụ điều trị, phẫu thuật. Vật dụng này giúp người y sĩ hành nghề cơ động ở mọi nơi trong điều kiện chiến tranh, thể hiện tinh thần sẵn sàng cứu chữa chiến sĩ trong mọi hoàn cảnh.
5. Dao mổ (phẫu thuật)
Dao mổ được cấp cho bà Hoàng Thị Sử vào Nam năm 1973, là dụng cụ dùng trong các ca phẫu thuật nhỏ và xử lý vết thương cho cán bộ, chiến sĩ. Hiện vật thể hiện tiDao mổ (phẫu thuật)nh thần dũng cảm, trách nhiệm và trình độ chuyên môn của người y sĩ nơi chiến trường.
6. Hộp đựng kim tiêm
Những hộp đựng kim tiêm được Trường 105 cấp vào năm 1973, dùng để bảo quản kim tiêm trong điều kiện chiến tranh. Hiện vật thể hiện sự cẩn trọng, ý thức giữ gìn vệ sinh vô trùng đối với kim tiêm của cán bộ y tế trong hoàn cảnh khó khăn, khó khăn, thiếu thốn.
7. Ống tiêm
Ống tiêm được cấp năm 1973 dùng để lưu trữ chỉ phẫu thuật, đảm bảo vệ sinh và an toàn khi sử dụng. Hiện vật phản ánh điều kiện làm việc giản dị nhưng vẫn tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc y khoa trong kháng chiến.
Ống tiêm dùng để lưu trữ chỉ phẫu thuật
8. Cây kim đại
Kim đại được cấp vào năm 1973, dùng để khâu các vết thương lớn trong phẫu thuật dã chiến (hay y khoa chiến trường). Vật dụng thể hiện sự tỉ mỉ và kỹ năng khéo léo của người y sĩ, góp phần cứu chữa thương binh trong điều kiện thiếu thốn.
9. Hộp đựng y cụ nhỏ
Hộp đựng y cụ nhỏ được cấp cùng thời điểm năm 1973, dùng để chứa các dụng cụ y tế như kéo, kim, kẹp, bông… thể hiện tính linh hoạt, cơ động và khả năng sắp xếp công việc của người y sĩ nơi chiến trường.
10. Ống thuốc Becozyme
Thuốc Becozyme là thuốc thuộc nhóm vitamin và khoáng chất có tác dụng cung cấp các vitamin nhóm B cho cơ thể một cách nhanh chóng khi cơ thể con người bị thiếu hụt. Tuy nhiên, thuốc sử dụng bằng đường tiêm nên người bệnh có thể gặp khó khăn trong việc dùng thuốc. Ống thuốc do Trường 105 cấp năm 1973, dùng để bảo quản thuốc. Thể hiện sự tận tụy và trách nhiệm của người làm công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội.
11. Kim tiêm
Kim tiêm nhỏ được cấp vào năm 1973, sử dụng trong các ca tiêm thuốc thông thường. Đây là hiện vật gắn bó mật thiết với công việc hàng ngày của y sĩ, biểu trưng cho sự tận tâm và kiên trì phục vụ người bệnh trong kháng chiến.
12. Hăng gô
Hăng gô (còn gọi là ăng-gô), cà mèn là dụng cụ đựng cơm, thức ăn hoặc nấu nước, nấu ăn cầm tay thường làm bằng nhôm, có nắp đậy. Đây là vật dụng phổ biến trong chiến tranh, được thiết kế gọn nhẹ, bền có thể dùng trực tiếp trên bếp lửa được. Hăng gô được Trường 105 cấp năm 1973, dùng để đựng nước hoặc thức ăn khi hành quân. Vật dụng này phản ánh đời sống sinh hoạt giản dị và tinh thần vượt khó của người y sĩ trong chiến tranh.
Hăng gô của bà Hoàng Thị Sử dùng trong kháng chiến
13. Lon Guigoz
Lon Guigoz là chiến lợi phẩm thu được của bà Hoàng Thị Sử, bà dùng làm cốc uống nước, đựng tài liệu, đựng cơm hoặc đựng vật nhỏ. Hiện vật mang giá trị kỷ niệm, gợi nhớ tình đồng chí, đồng đội trong những năm tháng gian khổ.