Sau năm 1954, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận địch càn quét dữ dội từ thành thị đến nông thôn, nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ và cán bộ trung kiên bị bắt tù đày. Để đảm bảo bí mật, an toàn cho Cơ quan Tỉnh ủy tránh sự khủng bố của địch, tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến, vấn đề chọn địa điểm xây dựng Căn cứ Tỉnh ủy được đặt ra và mang tính chất sống còn.
Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã chọn Sa Lôn (Saloun) để xây dựng Khu căn cứ nhằm đảm bảo sự bí mật và an toàn. Sa Lôn là khu rừng tự nhiên có địa bàn, địa thế và vị trí chiến lược rất quan trọng, tiếp giáp với vùng đồng bằng trải dài ven biển thuộc huyện Hàm Thuận trước đây, có sông suối chằng chịt, đất đai màu mỡ, thuận lợi để các cơ quan, trong đó có Tỉnh ủy tổ chức sản xuất tự túc lương thực, có đường hành lang chiến lược đan xen và thông nối với nhau. Mặt khác, Sa Lôn là địa bàn cư trú lâu đời của người Cờho, bà con một lòng theo Đảng và Bác Hồ, hết lòng hết sức thương yêu, ủng hộ và bảo vệ cán bộ cách mạng, đã tạo thành hậu phương tại chỗ vững chắc cho cuộc chiến tranh nhân dân.
Việc chọn Sa Lôn để xây dựng Căn cứ Tỉnh ủy đã thể hiện sự sắc bén trong vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, kinh nghiệm của cha ông để xây dựng căn cứ địa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh địa phương.
Khu di tích nằm ở vị trí cách thành phố Phan Thiết khoảng 60km, cách UBND huyện Hàm Thuận Bắc khoảng 43km về hướng Tây Bắc và cách UBND xã Đông Giang khoảng 12km về hướng Tây Nam. Khu di tích được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận xếp hạng di tích lịch sử - cách mạng cấp tỉnh ngày 25/10/2017; được khởi công xây dựng vào ngày 15/01/2021, hoàn thành và đưa vào sử dụng ngày 01/01/2023; ngày 02/02/2023 tổ chức Lễ Khánh thành đưa Khu di tích vào phát huy giá trị phục vụ Nhân dân và du khách tham quan.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh ủy Bình Thuận lập căn cứ đứng chân tại hơn 30 địa điểm khác nhau trên địa bàn tỉnh. Riêng tại Căn cứ Sa Lôn, Tỉnh ủy đứng chân 03 lần trong thời gian hơn 8 năm (từ tháng 12/1954 đến 6/1957, từ giữa năm 1961 đến tháng 12/1964 và từ tháng 9/1968 đến tháng 8/1970). Với những dấu ấn đặc biệt đó, Khu di tích Căn cứ Tỉnh ủy ở Sa Lôn đã được Tỉnh ủy Bình Thuận chọn làm nơi để phục dựng, tu bổ, tôn tạo các di tích gốc và xây dựng các hạng mục phụ trợ để bảo tồn, giữ gìn, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng hào hùng, oanh liệt của Cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ nói riêng, của Lịch sử Đảng bộ tỉnh nhà nói chung trong giai đoạn 1954 - 1975. Biến các giá trị lịch sử, tinh thần đó thành nơi bồi đắp ý thức, tình yêu quê hương đất nước và lòng tự tôn, tự hào dân tộc cho các tầng lớp Nhân dân tỉnh nhà thấu hiểu được sự gian khổ, hy sinh của các thế hệ cha ông đi trước, là nơi về nguồn cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Về địa danh Sa Lôn (Saloun): Theo các vị cao niên người Cờho ở địa phương thì Sa Lôn có nghĩa là “dòng nước Mẹ”, con suối nước chảy uốn lượn như con rồng, trong Khu di tích có con suối chảy qua được gọi tên là suối Chín Khúc. Mặt khác, Sa Lôn còn là địa bàn cư trú lâu đời của người Cờho hiện đang còn lưu giữ nhiều nét văn hóa đặc sắc của tộc người cần được khám phá, tìm hiểu và nghiên cứu.
Tổng diện tích toàn Khu di tích là 10,94 héc ta. Trong đó, Khu vực bảo vệ I (Khu di tích gốc) có diện tích 48.000m2, gồm các hạng mục: Hầm trú ẩn, Lán trại, Hội trường, Bếp Hoàng Cầm...; Khu vực bảo vệ II cách Khu vực di tích gốc khoảng 300m về hướng Tây Nam có diện tích 49.843m2, gồm các hạng mục: Nhà Tưởng niệm - Trưng bày, Bia Tưởng niệm, Nhà đón tiếp, Nhà làm việc Ban Quản lý di tích, Bãi đỗ xe, Chòi nghỉ chân, Khu vệ sinh và hệ thống đường đi lát đá kết nối Khu vực bảo vệ I với Khu vực bảo vệ II.
Trong Khu di tích có 13 hầm trú ẩn và lán trại, 01 Hội trường, 01 bếp Hoàng Cầm được phục dựng lại là nơi ở, làm việc và sinh hoạt của các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Thường vụ và các ban, bộ phận thuộc Cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong các lần đứng chân lập căn cứ kháng chiến ở Sa Lôn.
Các hầm trú ẩn đều có cấu trúc kiểu hầm chìm hình chữ Z. Tùy theo số lượng người trong mỗi ban, bộ phận nhiều hay ít mà hầm có kích thước lớn hay nhỏ cho phù hợp. Thông thường, thân hầm dài cỡ 2m, rộng từ 1,2m - 1,5m, cao khoảng 1,8m, ở giữa thân hầm có thể móc hàm ếch để chống sức ép của bom đạn. Ở hai đầu hầm bố trí 2 cửa tạo bậc cấp để tiện việc lên xuống. Bên trên hầm lót lớp cây gỗ sát liền nhau và phủ lá cây rừng, bên trên đổ một lớp đất dày phủ kín mặt hầm ngang với mặt đất tự nhiên để ngụy trang. Bên trong các hầm dựng 2 cột gỗ để mắc võng phục vụ nghỉ ngơi và ẩn náu khi địch bắn phá vùng Căn cứ.
Bên trên các hầm đều có dựng lán trại để làm việc và nghỉ ngơi, chỉ khi có máy bay hoặc pháo địch bắn phá mới xuống hầm để trú ẩn. Lán trại bên trên các hầm cơ bản giống nhau, được làm đơn sơ bằng các vật liệu: gỗ, tre, nứa.
Vị trí 13 hầm, lán trại, bếp Hoàng Cầm và hội trường tại Khu di tích gốc đã được phục dựng lại bằng chất liệu bê tông giả gỗ, mái bằng nhựa composite giả lá trung quân cụ thể như sau:
- Hầm của đồng chí Nguyễn Gia Tú - Bí thư Tỉnh ủy; hầm của đồng chí Lê Thứ (Bí danh Mười Bắc) - Phó Bí thư Tỉnh ủy; hầm của đồng chí Hoàng Từ (Bí danh Tám Từ) - Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ; hầm của bộ phận Cấp dưỡng; hầm của bộ phận Cảnh vệ
- Đặc biệt là bếp Hoàng Cầm: Trong Cơ quan Tỉnh ủy ở Sa Lôn có 1 bếp ăn tập thể bếp Hoàng Cầm được bố trí phía bên tả con suối Chín Khúc để nấu ăn phục vụ Cơ quan. Bếp Hoàng Cầm có công dụng làm tan loãng khói bếp tỏa ra khi nấu ăn nhằm tránh bị máy bay địch phát hiện. Bếp có nhiều lỗ thông gió thoát khói, nối liền với bếp bên trên đặt những cành cây và phủ một lớp đất. Khói từ trong bếp bốc lên qua các lỗ thông gió chỉ còn là một làn khói trắng như mây tan nhanh khi rời khỏi mặt đất. Tại khu vực này có con suối Chín Khúc chảy từ đỉnh núi xuống với làn nước trong xanh, du khách ngồi nghỉ chân ngắm cảnh, lội suối, tắm suối... Đây là vị trí thơ mộng để check-in ghi lại khoảnh khắc của du khách khi đến với Sa Lôn.
- Hội trường: Tại Căn cứ Sa Lôn có 01 Hội trường được sử dụng để họp và sinh hoạt chung của Cơ quan Tỉnh ủy. Hội trường có sức chứa khoảng từ 30 - 40 người, cách thức tạo dựng và lắp ghép cũng giống như lán trại bên trên các hầm trong Khu Căn cứ, ghế được làm bằng những thanh gỗ hoặc cây tre bắt ngang qua ở hai đầu và dùng dây mây cột lại.
Một số sự kiện lịch sử tiêu biểu diễn ra tại Căn cứ Tỉnh ủy Sa Lôn
- Tháng 10/1962, Tỉnh ủy họp bàn về việc thành lập thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam tỉnh Bình Thuận và củng cố các giới đoàn thể. Đến cuối năm 1962, thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam tỉnh Bình Thuận. Sau ngày thành lập, Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam tỉnh đã phát động mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước chống Mỹ, giết giặc lập công trong Nhân dân, trong các địa phương, đơn vị.
- Cuối năm 1962, thành lập các ban: An ninh, Tuyên huấn, Kinh tài, Dân y, Trường Đảng, Tổ chức, Dân vận, Binh vận, Hành lang, In ấn.
- Tháng 9/1964, tổ chức Đại hội Chiến sĩ thi đua đầu tiên của tỉnh Bình Thuận để động viên phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước.
- Đại hội lần thứ I Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng Miền Nam tỉnh vào năm 1962 và lần II vào năm 1964.
- Năm 1965, diễn ra Đại hội lần thứ I Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng tỉnh (Tỉnh đoàn).
- Tháng 6/1969, tổ chức Đại hội chính trị thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bình Thuận. Đại hội bầu đồng chí Nguyễn Quý Đôn làm Chủ tịch. Đây là Đại hội đầu tiên thành lập chính quyền cách mạng sau 15 năm kháng chiến chống Mỹ.
- Ngày 9/9/1969, tổ chức Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, buổi lễ diễn ra trong niềm đau xót, tiếc thương vô hạn, được coi là sự kiện khó quên, gây xúc động lớn đối với cán bộ, chiến sĩ trong Khu Căn cứ. Tại buổi lễ, di ảnh Bác Hồ bằng lụa được đặt trên bàn thờ làm bằng mây tre tuy đơn sơ nhưng hết sức trang trọng. Sau Lễ Truy điệu, di ảnh Bác Hồ được đặt trên bàn thờ thêm một thời gian để cán bộ, chiến sĩ trong Khu Căn cứ bày tỏ tấm lòng thành kính và tiếc thương đối với vị lãnh tụ, vị cha già kính yêu của dân tộc.
- Tháng 7/1970, tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ I trong kháng chiến chống Mỹ (là Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, Đại hội lần thứ I và II tổ chức trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp). Đây là Đại hội lần đầu tiên sau hơn 16 năm kháng chiến chống Mỹ, Đại hội diễn ra từ ngày 10 - 15/7/1970. Đại hội đã kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ từ năm 1954 đến tháng 6/1970, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 17 đồng chí. Đồng chí Lê Thứ (tức Mười Bắc) - Khu ủy viên được bầu làm Bí thư và đồng chí Nguyễn Quý Đôn làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, và nhiều sự kiện khác diễn ra tại Căn cứ Sa Lôn.