Bô phận Cấp dưỡng, Y tế, Sản xuất, May mặc, Đội tải thuộc Bộ phận Quản trị của Văn phòng Tỉnh uỷ.
Quản trị chịu trách nhiệm đề ra kế hoạch sản xuất tự túc khi có điều kiện, hoặc thu mua lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu của Cơ quan Tỉnh ủy; phải luôn dự trữ một số lượng lương thực, thực phẩm để phục vụ khi có Đại hội hay Hội nghị diễn ra tại Cơ quan Tỉnh ủy. Đồng thời, chuyên cấp phát nhu yếu phẩm cho các bộ phận khác trong cơ quan như: võng, mền, quần áo, nón, tấm nilon và một số vật dụng khác phục vụ công tác.
Bộ phận Quản trị (Cấp dưỡng, Sản xuất, Đội tải…) là những người trực tiếp mang tải, làm ra khoai sắn, lúa gạo, chăn nuôi, nhưng vẫn không thể nào cung ứng đủ cho các bộ phận trong cơ quan. Do cung cấp lương thực khó khăn nên bao giờ suất ăn cũng ít hơn mức tiêu chuẩn lương thực quy định (tiêu chuẩn 2,5 lon gạo/người/ngày) nên cấp dưỡng lúc nào cũng phải hết sức tính toán, cân nhắc và tiết kiệm tối đa theo tiêu chuẩn quy định, mặc dù bụng còn đói, trong kho có sẵn khoai, gạo. Suất ăn chủ yếu là khoai, bắp hầm, cơm gạo lức ăn với nước muối pha chút bột ngọt và ớt. Tùy theo từng mùa và chỗ ở, chị em cấp dưỡng có thể đi hái rau rừng, măng tre nấu thêm chút canh để cải thiện bữa ăn. Các ngày lễ, ngày Tết có lúc vào buôn đồng bào dân tộc Cờ hoa, Raglai lấy muối, vải mặc đổi lấy heo hoặc săn bắn, bẫy bắt thú rừng để cải thiện bữa ăn.
Về chăm lo đời sống cán bộ chiến sĩ trong Cơ quan Văn phòng Tỉnh ủy, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Thuận nêu: Đây là thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất trong suốt 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Cơ quan lãnh đạo chỉ đạo gặp nhiều khó khăn về lương thực thực phẩm, trở lại cảnh “Muối trường kỳ, mỳ chiến lược”. Cuộc sống cán bộ chiến sĩ các cơ quan, lực lượng vũ trang, đội ngũ công tác càng vất vả, gian truân….
Bộ phận Quản trị có đội sản xuất tự túc khoảng 10 - 15 người, đến mùa vụ sản xuất, các bộ phận khác trong Cơ quan phân công thêm người cùng đi sản xuất hoặc mang tải, vận chuyển khoai mì, bắp, lúa về cho Cơ quan. Hàng năm, Cơ quan làm khoảng 8 - 10 hecta rẫy tại Gò Nổi, Mắc Cỡ, trồng mì, bắp, chuối, lúa rẫy,… Sản phẩm làm ra, năm được mùa thì cơ quan ăn được 7 - 8 tháng, năm mất mùa thì 5 - 6 tháng.
Việc thu hoạch, bảo quản bắp, khoai, lúa sản xuất ra để ăn lâu dài là vấn đề nan giải. Bắp làm ra thu hoạch vào tháng 8, tháng 9, lúc này thường mưa tầm tã ở núi rừng Sa Lôn, không phơi khô được, phải làm nhà sấy. Khoai mì thu hoạch cuối mùa mưa, xắt phơi khô trong rẫy, có lúc bị máy bay phát hiện bắn phá mất hết. Khoai khô đem về ăn không kịp thì bị mối mọt. Số lương thực thiếu sau sản xuất tự túc thì Kinh tài mua thóc lúa dưới đồng bằng xã Hàm Đức, Hàm Trí, Hồng Sơn và cấp cho Cơ quan. Mỗi khi Kinh tài thông báo mang lúa thì đội tải Cơ quan (gồm người đội tải và người các bộ phận) lên đường, băng rừng, lội suối đi liên tục 2 - 3 ngày đêm mới mang được bồng lúa hoặc gạo nặng 20 - 30kg về Cơ quan. Có lúc đoàn đi mang tải lương thực bị địch phục kích đánh hy sinh, mất mát. Nếu lương thực còn thiếu nữa thì phải ăn củ rừng như nần, khoai, măng, rau tàu bay, xoài quéo, lá bép để chống đói.
Cũng giống như những căn cứ cách mạng khác, trong những năm Cơ quan Tỉnh ủy đứng chân tại Sa Lôn thì tình trạng thiếu cơm, lạt muối vẫn thường xuyên xảy ra. Nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống của Cơ quan Tỉnh ủy bấy giờ do Ban Kinh tài cung cấp. Tuy nhiên, do hoàn cảnh và điều kiện khó khăn, thiếu thốn chung của cuộc chiến nên không thể đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu cho Tỉnh ủy. Có những lúc thiếu thốn lương thực, thực phẩm; Tỉnh ủy phải sống dựa vào đồng bào các dân tộc thiểu số trong vùng, dùng muối dự trữ để đem đổi lấy gạo, khoai, bắp, thịt… phục vụ bữa ăn cho các chiến sĩ trong cơ quan. Việc sản xuất tự cung tự cấp đã góp phần giải quyết một phần lương thực cho cơ quan và càng có ý nghĩa trong những thời điểm khó khăn, thiếu thốn như: khoai mì tươi đem luộc chấm muối hoặc mài củ mì tươi ra dùng lá lùng sẵn có trên rừng để gói bánh ăn cho đỡ ngán, bắp hầm chà tro ăn thay cơm.
Vấn đề hết sức nan giải trong các Khu Căn cứ Tỉnh ủy trước đây là muối ăn; không chỉ thiếu muối cho Cơ quan Tỉnh ủy, các đơn vị mà còn cho cả đồng bào ở căn cứ. Cuối năm 1962 và năm 1966, Thường vụ Tỉnh ủy chủ trương huy động lực lượng bộ đội, cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích và đồng bào các dân tộc thiểu số ở các khu căn cứ trên cả ngàn người do Đại đội Hoành Sơn bảo vệ, yểm trợ xuống đồng muối Phan Thiết lấy muối với quyết tâm như đi chiến đấu. Kết quả thật trọn vẹn, ta đã đưa về căn cứ một lượng muối khá lớn, nhờ đó vấn đề muối ăn được giải quyết căn bản cho Cơ quan Tỉnh ủy, lực lượng vũ trang và đồng bào dân tộc vùng căn cứ trong suốt mấy năm liền.